Logistics là khâu quan trọng trong chuỗi giá trị, lần đầu tiên được áp dụng trong lĩnh vực quân sự từ chiến tranh thế giới thứ hai. Ban đầu, logistics được hiểu là hoạt động hậu cần và tiếp vận; sau đó, phạm vi được mở rộng thêm vận tải và kho vận; ngày nay, logistics đã trở thành một khâu không thể thiếu trong chuỗi giá trị, từ nghiên cứu - phát triển, sản xuất - chế tạo, lắp ráp, marketing và bán hàng đến dịch vụ sau bán hàng. Các dịch vụ logistics có xu hướng tăng nhanh bao gồm vận tải, tư vấn thủ tục hải quan, kho vận, ủy thác, đàm phán và mua hàng, có khả năng mở rộng quy mô, mang lại lợi nhuận lớn nhưng cũng chứng kiến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà cung ứng.

Ngành logistics của Việt Nam chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Mục tiêu đến năm 2035, tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics hàng năm đạt khoảng 12-15%, đóng góp 5-7% vào tăng trưởng GDP, chi phí giảm xuống khoảng 12-15%, chỉ số LPI nằm trong top 40 và 80% doanh nghiệp chuyển đổi số. Trong bối cảnh nhu cầu tăng nhanh và quá trình hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, ngành logistics Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển, mặc dù vẫn còn không ít tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả. Việc thực hiện các cam kết quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để ngành mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực cung ứng. Nhiều doanh nghiệp logistics đã chủ động mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng lợi nhuận và xây dựng thương hiệu một cách hiệu quả.

Tuy nhiên, ngành logistics đang đối mặt với những nút thắt về thể chế phát triển, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao, làm hạn chế đáng kể khả năng phát huy tiềm năng. Những đòn bẩy tăng trưởng cao đang là động lực quan trọng, bao gồm mở rộng quy mô và thay đổi cơ cấu thị trường trên cơ sở chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng, kinh tế tuần hoàn và khai thác hiệu quả hơn các công cụ tài chính. Thêm vào đó, việc đổi mới mô hình kinh doanh đang trở thành giải pháp mang tính tất yếu, giúp doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị logistics toàn cầu. Đây là vấn đề cần được giải quyết thỏa đáng, vừa để tháo gỡ những nút thắt, vừa tạo động lực để ngành logistics Việt Nam bứt phá, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Vai trò không thể thiếu của logistics trong chuỗi giá trị toàn cầu

Logistics là một công đoạn tạo giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu gắn với hoạt động vận tải, giao nhận, lưu kho, lưu bãi và thực hiện các thủ tục hải quan. Luật Thương mại 2005 (Điều 233) mới chỉ đề cập đến dịch vụ logistics, đây là hệ thống hoạt động thương mại gồm lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát toàn bộ quá trình di chuyển, lưu trữ hàng hóa từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ, bao gồm nhận hàng, vận chuyển, kho bãi, làm thủ tục hải quan, đóng gói, xử lý đơn hàng, và giao nhận, nhằm tối ưu hóa hiệu quả và chi phí chuỗi cung ứng cho khách hàng.

Trong chuỗi giá trị toàn cầu gồm có các khâu nghiên cứu - phát triển, sản xuất, marketing và bán hàng đến dịch vụ sau bán hàng, phần giá trị gia tăng do logistics đóng góp chiếm khoảng 15-20% đối với toàn bộ giá bán hàng hóa, con số này khác nhau tùy đặc điểm hàng hóa. Mặt hàng ô tô, xi măng, sắt thép có chi phí logistics, đặc biệt là chi phí vận tải cao hơn so với điện thoại, máy tính. Để vận hành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh nhằm thực hiện trọn vẹn một quy trình sáng tạo giá trị gia tăng, cần bảo đảm sự vận hành thông suốt của các khâu vừa tối ưu về thời gian, vừa bảo đảm giao hàng đúng địa điểm và thời gian thỏa thuận, cần có hệ thống logistics được thiết lập công phu, khoa học và có hiệu quả cao nhất. Việc lựa chọn các tuyến vận tải tối ưu đòi hỏi sự tham gia của ngành “vận trù học”. Ngược lại, nếu tổ chức vận hành logistics không tốt, có thể làm ách tắc chuỗi giá trị, không phát huy được các động lực tăng trưởng, hạn chế doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế giai đoạn giãn cách xã hội trong đại dịch COVID-19, do bị đứt gãy chuỗi cung ứng thực chất là gián đoạn hoạt động logistics, xuất hiện tình trạng thiếu container trầm trọng, gây ngưng trệ hoạt động xuất - nhập khẩu, làm suy giảm tăng trưởng toàn cầu.

Ngành logistics ở Việt Nam hiện tại đóng góp khoảng 60 tỷ USD vào GDP. Đây là ngành có quá trình phát triển khoảng 20 năm kể từ ngày chính thức đưa ra khái niệm dịch vụ logistics. Cho đến nay, ngành đạt được những kết quả phát triển quan trọng trong đóng góp tăng trưởng GDP, tạo việc làm, huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, ngành đối mặt với những nút thắt cản trở phát triển nhất định và cũng có những đòn bẩy tăng trưởng quan trọng. Cả hai yếu tố này tạo nên điểm then chốt để ngành bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu khi tháo gỡ được nút thắt và phát huy được đòn bẩy tăng trưởng hiệu quả.

 4 nút thắt chủ yếu

Chưa tạo lập đầy đủ và đồng bộ thể chế hỗ trợ tối đa sự phát triển logistics từ nguồn lực của tất cả các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân

Trước hết, pháp luật hiện tại về logistics vẫn nặng tư duy kiểm soát, quản lý theo phương châm ‘không quản được thì cấm’, chưa quán triệt tư duy thúc đẩy phát triển toàn ngành một cách thực chất và lâu dài. Nhiều lĩnh vực có xu hướng phát triển mạnh của logistics gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh nhưng thiếu quy định cụ thể về phân loại xanh, tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), yêu cầu cân bằng năng lượng, cũng như các tiêu chuẩn phát thải ròng bằng “0” đến năm 2050 theo cam kết quốc tế và các loại tiêu chuẩn quan trọng khác gắn với từng phân ngành cụ thể như vận tải hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường bộ, đường sắt. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, mức độ phát thải ròng ngành vận tải đường bộ Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất. Việc chậm ban hành hoặc điều chỉnh các loại quy định và tiêu chuẩn quan trọng liên quan đến logistics làm chậm quyết định đầu tư phát triển logistics.

Thứ hai, kinh tế tư nhân là một thành phần quan trọng nhất, có nguồn lực và tiềm lực đáng kể trong phát triển logistics nhưng chưa có cơ chế huy động và khuyến khích thỏa đáng trong thời gian dài. Cơ chế này chỉ mới được hình thành phù hợp từ khi có Nghị quyết 68/NQ-TW năm 2025 và đang trong giai đoạn triển khai, cần thêm thời gian để thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ.

Thứ ba, tình trạng thâm hụt thương mại dịch vụ vận tải và bảo hiểm kéo dài liên tục trong nhiều năm, nhất là thâm hụt cán cân dịch vụ vận tải năm 2024 lên đến con số 7,1 tỷ USD (theo số liệu của Cục Thống kê, Vietnam Report tổng hợp). Điều này cho thấy thể chế hiện hành chưa tạo được sức chống chịu cần thiết và chưa cải thiện hiệu quả năng lực cạnh tranh cao của ngành trước tác động của mở cửa thị trường và áp lực cạnh tranh rất cao từ các doanh nghiệp quốc tế.

Bất cân xứng giữa cơ sở hạ tầng với nhu cầu logistics ngày càng tăng cao

Với quy mô GDP khoảng 500 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu khoảng 950 tỷ USD năm 2025, dự kiến GDP tăng trưởng hai con số liên tục trong giai đoạn 2026-2030, nhu cầu về logistics tăng cao chưa từng có. Trong khi đó, hạ tầng về sân bay, cảng biển, cảng cạn, đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa, trạm trung chuyển, kho hàng chuyên dụng cũng như các trung tâm logistics quốc gia thông minh đang trong giai đoạn thành lập và hoàn thiện. Năng lực của hệ thống phương tiện vận tải quy mô lớn, nhất là lực lượng tàu biển, đường sắt, đường bộ tải trọng lớn, còn rất hạn chế. Đáng chú ý, ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam vẫn chưa tự chủ trong việc đóng mới các tàu có năng lực chuyên chở từ 200 nghìn tấn trở lên, trong khi lượng hàng hóa vận chuyển ngày càng tăng nhanh. Sự hạn chế này cản trở đáng kể đến khả năng tự cân đối cung – cầu về logistics nội địa, hạn chế tính tự chủ về cung ứng trong nước và tăng sự phụ thuộc vào năng lực vận chuyển của nước ngoài. Đây cũng là lý do làm tăng chi phí logistics, làm suy giảm sức cạnh tranh toàn ngành và ảnh hưởng thiếu tích cực đến khả năng huy động nguồn lực tăng trưởng với tốc độ cao. Tình trạng này làm giảm dần khoản lợi nhuận thu được đáng kể từ logistics và một phần không nhỏ rơi vào các nhà cung ứng nước ngoài.

Để khắc phục tình trạng bất cân xứng, rất cần sự tham gia đầu tư của nhiều thành phần kinh tế nhằm nâng cao năng lực ngành logistics, trên cơ sở hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển ngành giai đoạn mới. Tuy nhiên, việc hoàn thiện quy hoạch phát triển giai đoạn mới gắn với sáp nhập tỉnh thành, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tinh gọn bộ máy quản lý được quyết liệt thực hiện từ năm 2025, đòi hỏi điều chỉnh đồng bộ nhiều mục tiêu phát triển và ngành logistics phải tính toán lại các nguồn lực để phù hợp với tình hình mới, tạo đà tăng trưởng cao hơn.

Thiếu hụt đáng kể nguồn nhân lực chất lượng cao

Ngành logistics có tính tổng hợp cao và ngày càng đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau cũng như sự liên kết với các công ty công nghệ để tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian. Điều này còn thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và phát triển với nguồn nhân lực chủ yếu là các nhà khoa học, chuyên gia cao cấp, các nhà hoạch định chính sách, doanh nhân, kỹ sư, lực lượng lao động có kỹ năng chuyên môn sâu. Theo ước tính của các chuyên gia, quy mô nguồn nhân lực cần thiết cho ngành logistics có thể đạt khoảng 600 nghìn người vào năm 2030.

Hiện tại, năng lực cung ứng nguồn nhân lực này từ các cơ sở đào tạo về kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, quản lý còn hạn chế đáng kể. Nếu mỗi năm năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo trong nước cung ứng 15-20 nghìn sinh viên tốt nghiệp thì phải mất 30-40 năm mới cung ứng đủ con số này. Trong bối cảnh đó, việc ngành logistics và quản lý chuỗi cung ứng ngày càng khẳng định vị thế trong hệ thống giáo dục đại học cho thấy nhu cầu nhân lực chất lượng cao của thị trường đang tăng lên rất nhanh. Thực tế trong khoảng 5 năm gần đây, điểm tuyển sinh đầu vào của ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng tại nhiều cơ sở đào tạo lớn, đặc biệt là Đại học Kinh tế Quốc dân – đại học dẫn đầu về kinh tế và quản trị kinh doanh tại Việt Nam – luôn duy trì ở mức cao, phản ánh rõ sự gia tăng mạnh mẽ của nhu cầu thị trường đối với nguồn nhân lực ngành này.

Hạn chế lớn về năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu

Hầu hết doanh nghiệp logistics ở Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, nhân lực trình độ cao và khả năng đảm nhận những hợp đồng vận tải quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu. Vì thế, các doanh nghiệp khó có thể đảm đương được những khâu quan trọng, phần giá trị thu được thường có tỷ trọng khá khiêm tốn trong cả chuỗi giá trị. Hơn nữa, sự hạn chế năng lực tham gia dẫn đến sự tụt hậu về khả năng kết nối của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là cơ hội lớn để các doanh nghiệp logistics nước ngoài vừa thống lĩnh được thị trường logistics toàn cầu, vừa thâm nhập sâu vào thị trường logistics Việt Nam. Cùng với đó là khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp logistics trong nước chưa được phát huy hiệu quả dẫn đến khả năng chống chịu trước áp lực cạnh tranh quốc tế không cao. Nói cách khác, khả năng tự bảo vệ thị trường trong nước của các doanh nghiệp logistics nội địa chưa tương xứng trước áp lực rất lớn về mở cửa thị trường logistics theo các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA mà Việt Nam đã tham gia.

Hệ quả là nguy cơ không nhỏ rơi vào “bẫy thương mại tự do” – doanh nghiệp nội địa chỉ chủ yếu đảm nhận những khâu công việc giá trị gia tăng thấp nhất. Tuy nhiên, bên cạnh những thách thức này, đã xuất hiện những tín hiệu tích cực cho thấy khả năng vươn lên của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Điển hình là việc Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) thành lập Trung tâm logistics thông minh tại Lạng Sơn từ năm 2025 nhằm kết nối sâu hơn với thị trường logistics Trung Quốc. Cùng với đó, một số doanh nghiệp logistics trong nước đang phát triển mạnh mẽ, từng bước khẳng định vị thế và mở ra giai đoạn phát triển mới cho ngành logistics Việt Nam.

5 đòn bẩy tăng trưởng

Trái ngược với bốn nút thắt đang kìm hãm sự phát triển của ngành logistics trong ngắn và trung hạn, năm đòn bẩy tăng trưởng đang hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển của ngành cả trong ngắn, trung và dài hạn. Các đòn bẩy này vừa tạo động lực gia tăng tổng cầu, vừa tạo lực đẩy tổng cung thông qua tăng các yếu tố đầu vào chất lượng cao như công nghệ hiện đại, nhân lực trình độ chuyên môn cao và mô hình kinh doanh thông minh, bền vững, theo đó, có thể làm giảm chi phí logistics từ lợi thế quy mô và cải thiện hiệu quả liên tục.

Mở rộng thị trường trong nước từ việc quyết liệt cải thiện môi trường kinh doanh và tận dụng cam kết quốc tế

Việc cải thiện môi trường kinh doanh được thực hiện quyết liệt và liên tục trong hơn một thập kỷ qua. Đặc biệt, Luật Đầu tư sửa đổi năm 2025 cắt giảm 38 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều chỉnh phạm vi quản lý của 20 ngành, nghề kinh doanh khác. Môi trường kinh doanh trở nên rõ ràng, thông thoáng, minh bạch, qua đó có thể dự báo giảm thiểu chi phí tuân thủ, giảm thiểu lãng phí, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Điều này góp phần thúc đẩy tinh thần kinh doanh, đẩy mạnh khai thác thị trường cả chiều rộng và chiều sâu, gia tăng đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, tăng sản lượng hàng hóa, tăng nhu cầu logistics.

Bên cạnh đó, với việc mở cửa thị trường logistics theo các cam kết 17 hiệp định thương mại tự do, nhiều chi nhánh của tập đoàn logistics lớn có mặt tại Việt Nam như DHL (Đức) - dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế, vận chuyển hàng hóa và giải pháp logistics toàn diện, UPS (Mỹ) - dịch vụ vận chuyển, quản lý chuỗi cung ứng và logistics chuyên nghiệp, Schenker (Đức) - có thế mạnh vận tải đường biển, đường không, và dịch vụ logistics phức hợp, Kuehne + Nagel (Thụy Sĩ) - cung cấp dịch vụ logistics lớn hàng đầu thế giới, hoạt động mạnh tại Việt Nam, CJ Logistics (Hàn Quốc) - cung cấp giải pháp vận tải, kho bãi, S.F. Express (Trung Quốc) - giao hàng nhanh và vận chuyển hàng hóa, Expeditors (Mỹ) - giao nhận vận tải quốc tế, cung cấp dịch vụ 3PL/4PL. Sự hiện diện và tham gia sâu của đối tác nước ngoài vào thị trường logistics nội địa góp phần tăng tính năng động thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy đầu tư hiện đại hóa, kết nối và đổi mới mô hình kinh doanh của doanh nghiệp nội địa.

Các doanh nghiệp logistics trong nước có xu hướng phát triển mạnh như Gemadept - vận tải đa phương thức và kho bãi, Transimex - dịch vụ vận tải, kho bãi, và logistics, Gemalink - dịch vụ cảng và logistics, Bee Logistics - giao nhận quốc tế. Đây là tín hiệu cho thấy triển vọng lớn mạnh của doanh nghiệp logistics trong nước, tạo khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và khẳng định tín hiệu thị trường phát triển mạnh.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu thị trường tạo điều kiện phát triển thuận lợi cho ngành logistics

Đến năm 2024, theo Cục Thống kê, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 12% và 88% còn lại thuộc về công nghiệp và dịch vụ. Để trở thành nước công nghiệp có thu nhập cao vào năm 2045, thực tiễn các nước công nghiệp hóa thành công chứng minh, tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống chỉ khoảng 1% GDP. Để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa đặt ra, cần giảm tỷ trọng nông nghiệp trên cơ sở tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Theo đó, bình quân mỗi năm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm khoảng 0,5% liên tục từ năm 2026 đến năm 2045. Đây cũng là quá trình tăng tốc tăng trưởng GDP để đạt mức hai con số liên tục trong giai đoạn 2026-2030 theo mục tiêu được Quốc hội thông qua từ năm 2025.

Quá trình điều chỉnh cơ cấu đòi hỏi đầu tư lớn vào phát triển công nghiệp và dịch vụ, trong đó có đầu tư rất lớn vào các đại dự án như sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc, hệ thống đường bộ cao tốc, cảng biển nước sâu, trạm trung chuyển, hạ tầng mạng viễn thông hiện đại, phát triển các trung tâm logistics. Theo đó, toàn ngành logistics có cơ hội phát triển mạnh vì liên quan đến cả công nghiệp, dịch vụ và cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh đó, cơ cấu thị trường có sự thay đổi đáng kể, mức độ tự do cạnh tranh tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình gia nhập thị trường trong nước và quốc tế. Đổi mới sáng tạo trở thành trụ cột phát triển mới bao gồm đổi mới công nghệ và mô hình kinh doanh, khả năng bình quân hóa lợi nhuận diễn ra nhanh chóng, chi phí logistics có xu hướng giảm trong chuỗi giá trị, trong khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Doanh nghiệp muốn duy trì và mở rộng thị phần, cần tạo được sự khác biệt, xây dựng chuỗi cung ứng vững chắc cùng với tạo lợi thế quy mô. Theo đó, các hoạt động khởi nghiệp, thành lập doanh nghiệp mới cũng như mua bán và sáp nhập (M&A) có xu hướng gia tăng, đồng thời không loại trừ khả năng một bộ phận doanh nghiệp phải chuyển hướng hoạt động hoặc rút lui khỏi thị trường do không đủ năng lực cạnh tranh.

Đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, lan tỏa rộng lớn và tác động sâu sắc

Đây là xu hướng khách quan xuất hiện gắn với cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các nền tảng cơ bản như dữ liệu lớn, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ chuỗi khối. Những thành tựu đạt được của khoa học - công nghệ số được thương mại hóa rộng rãi thúc đẩy sự phát triển của tất cả các lĩnh vực. Điều này được khẳng định trong Nghị quyết 57/NQ-TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tư duy phát triển logistics bước sang một chu kỳ mới, chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên nền tảng số và khai thác lợi thế của không gian mạng. Các mô hình logistics phù hợp với công nghệ số được chú trọng đầu tư và phát triển mạnh mẽ, với xu hướng bao trùm là số hóa đồng bộ, giảm thiểu giấy tờ, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, đẩy mạnh tự động hóa và thông minh hóa ở mức cao. Theo đó, các mô hình quản trị logistics ngày càng dựa nhiều hơn vào việc tận dụng công cụ số, nền tảng số, quy trình và ứng dụng số, cùng với sự phát triển của doanh nghiệp số và chính phủ số. Mục tiêu đặt ra là giảm thiểu tối đa chi phí logistics, hạn chế lãng phí thời gian, tăng tốc độ cung ứng, bảo đảm hệ thống vận hành liên tục 24/7, đa dạng hóa dịch vụ, nâng cao trải nghiệm khách hàng và mức độ hài lòng của người sử dụng.

Trên nền tảng đó, hệ sinh thái logistics số từng bước được hình thành, tạo ra các phân khúc thị trường mới trong cung ứng dịch vụ logistics. Để tham gia sâu vào chuỗi giá trị logistics toàn cầu trong điều kiện số hóa, doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn và quy định quốc tế liên quan đến dữ liệu, an ninh mạng và vận hành số. Đây là phân đoạn thị trường mới đang thu hút sự quan tâm của hầu hết các doanh nghiệp, qua đó mở ra cơ hội để doanh nghiệp logistics Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với các mô hình kinh doanh logistics trên nền tảng số, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các tập đoàn logistics quốc tế.

Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch năng lượng để phù hợp với những yêu cầu mới của ngành logistics bền vững

Đây là xu hướng phát triển mới diễn ra đồng thời với chuyển đổi số. Ngành logistics có mức độ phát thải ròng khá cao theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, đặc biệt là trong giao thông đường bộ ở Việt Nam, đặt ra yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi xanh. Nếu chuyển đổi số là điều kiện cần thì chuyển đổi xanh là điều kiện đủ để bảo đảm ngành logistics phát triển toàn diện, cân đối, hài hòa, đáp ứng những yêu cầu mới của sự phát triển bền vững.

Ngày càng có nhiều tiêu chuẩn mới gắn với xu hướng xanh hóa như yêu cầu phát thải ròng bằng “0” đến năm 2050, tuân thủ tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Việc thực hiện kinh tế tuần hoàn đòi hỏi tái sử dụng triệt để các loại chất thải của ngành vào tạo ra sản phẩm mới. Yêu cầu này cần có công nghệ tái chế hiệu quả. Hơn nữa, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng giảm dần tỷ trọng sử dụng năng lượng hóa thạch, tăng tỷ trọng sử dụng nguồn năng lượng mới như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, sinh khối, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), hydrogen và amoniac, cũng như sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, đòi hỏi đầu tư lớn vào phát triển nền tảng sử dụng nguồn năng lượng mới. Theo đó, ngành logistics có những triển vọng phát triển mạnh nếu đầu tư đúng hướng, chấp nhận chi phí đầu tư cao ban đầu và chi phí biên tuân thủ lớn để đạt được mục tiêu phát triển đột phá dài hạn khi tham gia chủ động, tích cực, thực chất vào thị trường logistics toàn cầu.

Phát huy hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả đòn bẩy tài chính để cải thiện tiềm lực và sức chống chịu của ngành logistics

Với tổng cầu logistics tăng nhanh cùng với việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số liên tục giai đoạn 2026-2030, tốc độ tăng trưởng ngành logistics phải cao hơn so với tăng trưởng GDP bình quân mới có thể phát huy được đầy đủ vị trí, vai trò của ngành trong bảo đảm các cân đối cơ bản của nền kinh tế như sản xuất - tiêu dùng, đầu tư - tiết kiệm, xuất - nhập khẩu. Theo đó, nguồn tài chính đầu tư vào logistics tăng lên đáng kể, góp phần không nhỏ vào tích lũy, gia tăng tiềm lực và sức chống chịu của ngành.

Các nguồn tài chính này rất cần để chi cho nghiên cứu và phát triển, phát triển cơ sở hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại, thông minh và văn minh, đào tạo nhân lực, hoàn thiện thể chế, hỗ trợ cải thiện môi trường kinh doanh. Mặc dù chưa có những tính toán cụ thể, nhưng nhìn tổng thể, để nâng cấp hệ thống logistics đồng bộ tất cả các yếu tố cấu thành theo hướng hiện đại nhất, phạm vi rộng nhất và phục vụ mục tiêu lâu dài, nguồn tài chính có thể lên tới hàng trăm tỷ USD. Hệ số sinh lợi của các khoản đầu tư này có thể ở mức bình quân thấp nhất và thời hạn thu hồi kéo dài nhất - có thể hàng chục năm.

Do đó, cần có phương thức huy động đa dạng như tăng chi từ ngân sách trung ương và địa phương, huy động từ trái phiếu công trình, trái phiếu chính phủ, vay từ định chế tài chính quốc tế, kêu gọi sự tham gia của tư nhân qua phương thức đối tác công - tư, vay từ hệ thống ngân hàng, huy động từ thị trường tài chính quốc tế hoặc nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Coi trọng huy động nguồn tài chính xanh trên cơ sở ban hành danh mục phân loại xanh, thực hiện kiểm kê khí nhà kính, đẩy mạnh giải ngân các dự án đầu tư logistics xanh để tạo khả năng phát huy lợi thế hệ thống tài chính phục vụ sự phát triển toàn ngành. Yêu cầu đặt ra đối với đòn bẩy tài chính cho phát triển ngành logistics là bảo đảm hiệu năng cao - tạo tác động lan toả lớn, hiệu lực mạnh - bảo đảm triển khai đúng tiến độ, tuân thủ đúng quy định pháp luật về tài chính và hiệu quả - tỷ lệ thu hồi cao nhất trong thời hạn ngắn nhất.

5 giải pháp tháo gỡ nút thắt và phát huy đòn bẩy tăng trưởng

Rõ ràng, bốn nút thắt và năm đòn bẩy tăng trưởng của ngành logistics Việt Nam là điểm then chốt để bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các nút thắt và đòn bẩy này là những yếu tố khách quan, tồn tại đồng thời, có ảnh hưởng đáng kể đến toàn ngành logistics, do đó, đến toàn bộ nền kinh tế nhưng hoàn toàn có thể nhận thức đầy đủ và có giải pháp đồng bộ để tháo gỡ hiệu quả nút thắt đồng thời với phát huy đòn bẩy tăng trưởng.

Đổi mới mô hình tăng trưởng quốc gia và mô hình kinh doanh toàn ngành logistics

Đổi mới mô hình tăng trưởng quốc gia cơ bản nghĩa là gắn tăng trưởng GDP cao hai con số liên tục với chuyển dịch sâu cơ cấu kinh tế. Nếu mô hình tăng trưởng trước đây coi trọng sử dụng nhiều yếu tố đầu vào như đất đai, lao động, vốn đầu tư với hiệu quả thấp, phát thải ròng cao, gây ô nhiễm thậm chí tàn phá tài nguyên và hủy hoại môi trường thì mô hình tăng trưởng mới sử dụng nhiều yếu tố khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm tuân thủ đầy đủ những yêu cầu của tiêu chuẩn phát triển bền vững. Những yếu tố cấu thành mô hình tăng trưởng mới này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn bảo đảm sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách sâu sắc và bền vững, gắn kết hữu cơ giữa tăng trưởng cao và chuyển dịch cơ cấu. Theo nghĩa đó, đây không chỉ là mô hình tăng trưởng mà là một mô hình phát triển, có tính vượt trội so với mô hình hiện hành. Trong mô hình phát triển này, năng suất tổng hợp các yếu tố tăng từ 45% năm 2025 lên 55% năm 2030 (Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIV), đồng thời với công nghiệp - dịch vụ tăng nhanh hơn so với nông nghiệp, làm cho tỷ trọng nông nghiệp giảm tương đối.

Với mô hình phát triển được xây dựng, ngành logistics có sứ mệnh phát triển mới - chuyển dịch nhanh cơ cấu ngành để phù hợp với yêu cầu mới như giảm sử dụng nhiều lao động giá rẻ, nguồn vốn rẻ và tài nguyên sẵn có như đất đai, nguồn nước, năng lượng hóa thạch, máy móc, thiết bị và phương tiện lạc hậu, phát thải ròng cao. Thay vào đó, cần coi trọng phát triển các ngành công nghiệp chế tạo hiện đại, trình độ cao, chuyên sâu như ngành đóng tàu thủy có đủ năng lực đóng tàu tải trọng lớn (trên 150 ngàn tấn), tốc độ cao, phát thải ròng thấp, sử dụng năng lượng xanh để tăng năng lực tự chủ về cơ sở vật chất ngành logistics bền vững của Việt Nam.

Đồng thời, cần đổi mới mô hình kinh doanh toàn ngành theo hướng cải thiện môi trường kinh doanh toàn ngành, hoàn thiện thể chế phát triển toàn ngành về chiến lược, chính sách, quy định, tiêu chuẩn, thúc đẩy cạnh tranh nội bộ ngành để cải thiện năng lực chống chịu, khả năng thích ứng với cạnh tranh và tạo áp lực nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo và cơ cấu tổ chức, hướng tới tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu năng cao, hiệu lực mạnh và hiệu quả bền vững. Cần lấy nhu cầu thị trường làm căn cứ xây dựng chiến lược và tổ chức mô hình kinh doanh thống nhất, kết nối với đối tác quốc tế để có phương thức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tránh bị rơi vào bẫy “công đoạn giá trị thấp nhất” trong chuỗi.

Trước mắt, cần thống nhất quy định về logistics nhằm bổ sung thêm nội dung của Điều 233 Luật Thương mại 2005 chỉ định nghĩa dịch vụ logistics. Thực tế cho thấy khái niệm logistics có nội hàm rộng hơn so với khái niệm dịch vụ logistics liên quan đến cả hạ tầng kỹ thuật như đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đường thủy nội địa, đường biển, hệ thống cảng, kho bãi và trung tâm logistics. Việc bổ sung thêm nội dung sẽ góp phần tăng thêm tính bao quát của khái niệm, tăng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn bản chất ngành logistics là một ngành công nghiệp mũi nhọn, mang tính nền tảng, có tính liên kết cao và tính bao quát lớn để hoàn thiện thể chế phát triển toàn diện và thực chất hơn.

Phát triển hệ thống doanh nghiệp logistics theo hướng tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu

Theo Nghị quyết 68/NQ-TW đến năm 2030, cố gắng có 20 tập đoàn kinh tế có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong đó sẽ có tập đoàn công nghiệp logistics. Thực tế, đã có doanh nghiệp ngành logistics Việt Nam tham gia từng phần vào chuỗi giá trị toàn cầu về nhóm ngành giao nhận quốc tế, kho bãi, dịch vụ logistics bên thứ 3, thứ 4, nhóm ngành vận tải hàng hóa, nhóm ngành khai thác cảng, nhóm ngành chuyển phát nhanh, giao hàng chặng cuối, logistics hàng không, ngành vận tải siêu trường, siêu trọng (Vietnam Report, Top 10 & Top 5 Công ty uy tín ngành Logistics). Đây là lực lượng có khả năng trở thành tập đoàn có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có các chính sách đầu tư đủ mạnh và hiệu quả, tập trung vào việc hỗ trợ doanh nghiệp logistics mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế đồng bộ, bao gồm ưu đãi về thuế, phí, lãi suất tín dụng, tiếp cận mặt bằng kinh doanh, cung cấp thông tin thị trường, kết nối đối tác chiến lược và tận dụng các cam kết mở cửa thị trường trong các hiệp định thương mại tự do. Thực tế cho thấy, khi thị trường được mở rộng và môi trường kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp logistics sẽ có điều kiện gia tăng nhanh quy mô hoạt động. Chẳng hạn, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam dự kiến đạt mốc kỷ lục khoảng 1.000 tỷ USD vào năm 2025 và nhiều khả năng tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo. Quy mô thương mại này phản ánh tiềm năng thị trường logistics rất lớn, tạo dư địa để hình thành và phát triển các tập đoàn logistics có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.

Đồng hành giữa Chính phủ và doanh nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ vướng mắc và tận dụng triệt để cơ hội phát triển

Trong bối cảnh hoàn thiện thể chế và chuyển đổi sang giai đoạn phát triển mới, ngành logistics vẫn đang đối mặt với nhiều bất cập về chính sách, cơ chế và tổ chức thực thi, tạo ra các nút thắt cản trở tăng trưởng. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường sự đồng hành chặt chẽ giữa Chính phủ và doanh nghiệp, bảo đảm mọi kiến nghị, đề xuất của doanh nghiệp được tiếp nhận nhanh chóng, xử lý kịp thời và giải quyết một cách toàn diện.

Việc đồng hành này cần được thể chế hóa thông qua cơ chế bảo đảm sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, quy định và tiêu chuẩn liên quan đến ngành logistics. Đồng thời, những khó khăn và vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi chính sách cần có sự vào cuộc chủ động của các cơ quan nhà nước nhằm tháo gỡ theo hướng hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển. Trên cơ sở đó, cần xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Chính phủ và doanh nghiệp, kết hợp với việc tổ chức các cuộc đối thoại định kỳ, thực chất và có trọng tâm. Sự phối hợp này sẽ góp phần hình thành sức mạnh tổng hợp, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và đóng góp vào mục tiêu thịnh vượng chung của quốc gia.

Gắn kết chặt chẽ phát huy nội lực với tận dụng hiệu quả ngoại lực nhằm tối đa hóa nguồn lực cho phát triển

Việc gắn kết chặt chẽ giữa phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực nhằm mục tiêu bổ sung và mở rộng nguồn lực phát triển cho ngành logistics, đồng thời khai thác hiệu quả các xu hướng và nguồn lực to lớn từ bên ngoài. Trong bối cảnh nguồn lực trong nước còn hạn chế, việc tận dụng các nguồn lực quốc tế như đội phương tiện vận tải có năng lực lớn, thị trường thuê phương tiện rộng, mô hình kinh doanh hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao, dòng vốn đầu tư quy mô lớn, mạng lưới logistics toàn cầu và thương hiệu mạnh là hết sức cần thiết.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa thị trường, mặt hàng và đối tác để giảm thiểu rủi ro trước các cú sốc bên ngoài như biến động cạnh tranh, xung đột thương mại hoặc bất ổn địa chính trị. Đây là những nguồn lực quan trọng mà doanh nghiệp logistics trong nước cần chủ động thu hút nhằm nâng cao năng lực tự chủ, khả năng chống chịu và vị thế cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phương châm cần quán triệt vững chắc trong liên kết, hợp tác chủ động, tích cực với đối tác nước ngoài là “nội lực đóng vai trò quyết định, ngoại lực đóng vai trò quan trọng và lợi ích quốc gia là tối thượng”.

Xây dựng và vận hành hệ sinh thái phát triển logistics phù hợp chiến lược phát triển giai đoạn mới

Bản chất logistics là một ngành kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ đa dạng, có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố trong nước và yếu tố quốc tế. Để ngành hoạt động hiệu quả, cần xây dựng và vận hành hệ sinh thái phát triển logistics phù hợp, nhất là với chiến lược tăng trưởng hai con số kể từ năm 2026. Do đó, cần xây dựng hệ sinh thái phát triển phù hợp, trên cơ sở lấy doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm thể chế phát triển hiệu quả, thông thoáng, nhất là chiến lược phát triển dài hạn phải được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ cụ thể từng giai đoạn, gắn với từng nhóm ngành cụ thể trong logistics. Đồng thời cần có bộ máy vận hành phù hợp, thủ tục tinh gọn, đội ngũ phục vụ chất lượng cao. Coi trọng phát triển thị trường bằng các loại công cụ hiệu quả như thông qua các đơn đặt hàng của Chính phủ, hỗ trợ, khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia nhiều hơn, tích cực hơn vào thị trường logistics. Hơn nữa, cần chú ý kết nối chặt chẽ và đa dạng với đối tác để giảm thiểu rủi ro khi có biến động bất lợi cùng với việc thành lập các quỹ bảo hiểm rủi ro, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và giữa doanh nghiệp trong nước với tập đoàn nước để tận dụng thế mạnh và cơ hội khi cần thiết.

Kết luận

Logistics giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chuỗi giá trị, đồng thời là cầu nối hiệu quả giữa chuỗi giá trị trong nước và chuỗi giá trị toàn cầu. Với quy mô thị trường ngày càng mở rộng, cùng sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động thương mại, đầu tư và dịch vụ ở cả cấp độ trong nước và quốc tế, sự phát triển của ngành logistics có ý nghĩa nền tảng trong việc tạo ra các đột phá chiến lược cho phát triển kinh tế – xã hội.

Logistics Việt Nam đang gặp phải bốn nút thắt chủ yếu về thể chế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như hạn chế khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có năm đòn bẩy tăng trưởng quan trọng để bứt phá phát triển ngành trong chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đòi hỏi sự quyết liệt trong tháo gỡ nút thắt và phát huy tác động tích cực của năm đòn bẩy tăng trưởng quan trọng nhằm tạo ra sự bứt phá phát triển ngành trong chuỗi giá trị. Các vấn đề trọng tâm là đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và mô hình kinh doanh ngành, phát triển mạnh hệ thống doanh nghiệp có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, kết hợp nội lực và ngoại lực, đồng hành Chính phủ và doanh nghiệp cũng như xây dựng và vận hành hệ sinh thái logistics hiệu quả trong chiến lược phát triển giai đoạn mới.

Vietnam Report